This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

Thứ Bảy, 16 tháng 3, 2019

Học ngành GD quốc phòng và an ninh được hưởng quyền lợi như học viên sĩ quan quân đội

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Đề án “Đào tạo giáo viên, giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh cho các trường trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề, cao đẳng nghề và các cơ sở giáo dục đại học đến năm 2020”.


Mục tiêu của Đề án đến năm 2020 bảo đảm đào tạo đáp ứng được 90% nhu cầu giáo viên và 70% nhu cầu giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh giảng dạy ở các trường trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề, cao đẳng nghề và các cơ sở giáo dục đại học.
Thời gian đào tạo, đào tạo chính quy tập trung thời gian 4 năm với đối tượng là những người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc tương đương theo quy định của Bộ GD-ĐT.
Đào tạo văn bằng 2, thời gian 24 tháng tập trung với đối tượng tuyển sinh là những người có bằng tốt nghiệp đại học các ngành khác. Đào tạo văn bằng 2, thời gian 18 tháng tập trung với đối tượng tuyển sinh là giáo viên, giảng viên hiện đang giảng dạy tại các cơ sở giáo dục, đào tạo và dạy nghề, đã tốt nghiệp đại học chuyên ngành khác và có chứng chỉ đào tạo ngắn hạn giáo viên giáo dục quốc phòng - an ninh (thời gian đào tạo từ 6 tháng trở lên). Văn bằng tốt nghiệp là Cử nhân Giáo dục quốc phòng và an ninh.
Đặc biệt,  theo đề án người học ngành đào tạo giáo dục quốc phòng và an ninh được hưởng các chế độ: tiền học phí, tiền quân trang, tiền hỗ trợ trang bị phục vụ học tập, tiền ăn, tiền ở nội trú, bảo hiểm y tế, tiền hỗ trợ các hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị như quy định hiện hành đối với học viên sĩ quan cấp phân đội học tại trường sĩ quan lục quân thuộc Bộ Quốc phòng.
Học viên tốt nghiệp, bao gồm cả nữ, nếu có đủ tiêu chuẩn sức khỏe và tình nguyện đăng ký, được xét phong quân hàm sĩ quan dự bị theo quy định của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam và quy định của Chính phủ về sĩ quan dự bị Quân đội nhân dân Việt Nam; được ưu tiên tuyển dụng làm giáo viên các trường trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề, cao đẳng nghề và các cơ sở giáo dục đại học.
 
Theo Quyết định, có 12 cơ sở giáo dục đại học được giao nhiệm vụ đào tạo giáo viên, giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh gồm: 1- Trường Đại học Sư phạm Hà Nội; 2- Trường Đại học Sư phạm Hà Nội II; 3- Trường Đại học Vinh; 4- Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh; 5- Trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Đà Nẵng; 6- Trường Đại học Chính trị; 7- Trường Đại học Trần Quốc Tuấn; 8- Trường Đại học Nguyễn Huệ; 9- Trường Đại học Trần Đại Nghĩa; 10- Trường Đại học Ngô Quyền; 11- Trường Đại học Thông tin liên lạc; 12- Học viện Biên phòng.
Hồng Hạnh

Triển khai nhiệm vụ bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục phổ thông thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới

Ngày 28/2/2019, tại Hà Nội, Bộ GD&ĐT tổ chức hội nghị các trường sư phạm triển khai nhiệm vụ bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục phổ thông thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới.

Phát biểu chỉ đạo Hội nghị, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ nhấn mạnh vai trò của các trường sư phạm trong công tác bồi dưỡng đội ngũ thực hiện chương trình GDPT mới, đồng thời chỉ rõ từng nhóm đối tượng cần bồi dưỡng: Lãnh đạo sở GD&ĐT, phòng GD&ĐT; Giảng viên sư phạm cốt cán; Đội ngũ giáo viên phổ thông và hiệu trưởng cơ sở giáo dục phổ thông.

                  Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Phùng Xuân Nhạ phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị
Bộ trưởng lưu ý, bồi dưỡng nhằm nâng cao kiến thức và đạt chuẩn; Thiết kế chương trình bồi dưỡng phải phù hợp, thiết thực đối với từng nhóm đối tượng và có sự liên thông với các chương trình đào tạo; Phương thức bồi dưỡng chủ yếu theo hướng trực tuyến, qua mạng. Đối với hình thức bồi dưỡng trực tiếp, phải theo hướng chia sẻ, trao đổi, mang tính tương tác.
Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ cho rằng, việc lựa chọn đội ngũ cốt cán để bồi dưỡng trở thành những người "dẫn đường" là rất quan trọng, phải dựa vào năng lực thực tế, chuyên môn vững, giàu kinh nghiệm, đặc biệt là phải có tinh thần đổi mới, sự nhiệt tình chia sẻ với đồng nghiệp.
Tại hội nghị, các đại biểu đã thống nhất đối tượng, nội dung, phương thức, lộ trình bồi dưỡng và nhiệm vụ của các trường sư phạm thực hiện bồi dưỡng giáo viên, CBQLGDPT.
Các trường sư phạm đề xuất các chuyên đề cần bồi dưỡng, dựa trên khảo sát nhu cầu của đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và kinh nghiệm từ quá trình đào tạo, bồi dưỡng giáo viên của các nhà trường tại các địa phương.
Đại diện một số trường phổ thông tham dự hội nghị quan tâm đến nội dung, phương thức bồi dưỡng đáp ứng được nhu cầu của giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, chú trọng đổi mới phương thức bồi dưỡng, hướng dẫn cách làm, đặc biệt là khâu giám sát nhằm điều chỉnh ngay nội dung cũng như phương thức bồi dưỡng cho những khóa tiếp theo.
                                                 Đại biểu tham dự phát biểu ý kiến

Ông Nguyễn Xuân Thành, Phó Vụ trưởng Vụ Trung học phổ thông, Giám đốc dự án RGEP và Chương trình ETEP cho biết: Đến năm 2021 sẽ hoàn thành bồi dưỡng cho đối tượng cốt cán bao gồm: 800 giảng viên sư phạm, 1.000 cán bộ quản lý cấp sở/phòng, 4.000 hiệu trưởng, 35.000 giáo viên phổ thông và hoàn thành bồi dưỡng đại trà cho khoảng 3.500 cán bộ quản lý cấp sở/phòng, khoảng 28.000 hiệu trưởng và khoảng 900.000 giáo viên phổ thông, đáp ứng lộ trình chương trình giáo dục phổ thông mới.


Ông Nguyễn Xuân Thành - Phó Vụ trưởng Vụ Trung học phổ thông, Giám đốc Dự án RGEP và ETEP
Nội dung bồi dưỡng cho giáo viên, tập trung vào phát triển chuyên môn nghiệp vụ: Xây dựng kế hoạch dạy học và giảng dạy, sử dụng phương pháp dạy học và giảng dạy, kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất năng lực người học; tư vấn hỗ trợ học sinh; ứng dụng công nghệ thông tin, khai thác sử dụng thiết bị dạy học, giảng dạy.
Nội dung bồi dưỡng cho cán bộ quản lý, tập trung vào tăng cường năng lực quản trị nhà trường gồm: Tổ chức xây dựng kế hoạch phát triển nhà trường; quản trị hoạt động dạy học, giáo dục học sinh; quản trị cơ sở vật chất, thiết bị và công nghệ trong dạy học; quản trị chất lượng giáo dục trong nhà trường.
BQL ETEP Trung ương


Giáo dục sẽ có nhiều thay đổi quan trọng

Tại phiên họp lần thứ 31 diễn ra trong 2 ngày 21 và 22/2/2019, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nghe Chính phủ báo cáo kết quả lấy ý kiến Nhân dân về dự án Luật Giáo dục (sửa đổi).

Giáo viên mầm non phải có bằng cao đẳng
Liên quan đến trình độ chuẩn được đào tạo của nhà giáo, báo cáo của Chính phủ cho hay đa số ý kiến đóng góp nhất trí với quy định trong dự thảo luật là nâng trình độ chuẩn được đào tạo của giáo viên (GV) mầm non lên cao đẳng sư phạm. Đối với GV tiểu học, THCS, THPT phải có bằng tốt nghiệp ĐH sư phạm. Trong giai đoạn từ nay đến năm 2026, với những môn học chưa đủ GV được đào tạo trình độ ĐH sư phạm thì phải có bằng tốt nghiệp ĐH chuyên ngành tương ứng và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm.
Tuy nhiên, cũng có ý kiến băn khoăn các cơ sở giáo dục mầm non rất đa dạng, không phải mọi đối tượng, mọi cơ sở giáo dục mầm non đều cần người lao động có trình độ cao đẳng, đối tượng tham gia là người mẹ, người có nhu cầu làm việc ở môi trường giáo dục mầm non với nhiều hình thức (làm thêm, tạm thời, gắn bó lâu dài).
Miễn học phí mầm non, THCS
Về chính sách học phí, có tới 3 luồng ý kiến. Trẻ mầm non 5 tuổi và học sinh (HS) tiểu học, THCS trường công lập không phải đóng học phí. Trẻ mầm non 5 tuổi ở cơ sở giáo dục dân lập, tư thục; HS tiểu học, THCS trường tư thục được nhà nước hỗ trợ học phí. Trước mắt, ưu tiên thực hiện miễn và hỗ trợ học phí bậc THCS ở vùng miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trên cơ sở khả năng cân đối ngân sách nhà nước và giao Chính phủ quy định lộ trình thực hiện.
Chính phủ đồng ý với ý kiến trẻ mầm non 5 tuổi và HS tiểu học, THCS trường công lập không phải nộp học phí. Nhà nước bảo đảm các điều kiện về cơ sở vật chất và kinh phí hoạt động để thực hiện phổ cập giáo dục.
Trẻ mầm non 5 tuổi ở cơ sở giáo dục dân lập, tư thục; HS tiểu học, THCS trường tư thục được nhà nước hỗ trợ tiền đóng học phí cho cơ sở giáo dục dân lập, tư thục. Mức hỗ trợ do HĐND cấp tỉnh quy định tương đương mức ngân sách cấp chi thường xuyên tính bình quân trên một HS của cơ sở giáo dục công lập cùng cấp trên địa bàn.
Chính phủ cũng quy định lộ trình thực hiện chính sách không thu học phí đối với HS THCS trường công lập và hỗ trợ đóng học phí đối với HS THCS trường tư thục, trên cơ sở khả năng cân đối ngân sách nhà nước, trước mắt ưu tiên thực hiện ở vùng miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
TS Nguyễn Tùng Tâm, Chủ tịch Hội Tâm lý học Hà Nội, nhất trí với quy định miễn học phí bậc THCS. Ông Lâm cho rằng ở bậc phổ cập thì miễn học phí là hợp lý và nên làm.
Cơ cấu lại hệ thống giáo dục quốc dân
Về hướng nghiệp, phân luồng, cơ bản có 2 nhóm ý kiến, trong đó đa số cho rằng cần bổ sung vào dự thảo luật một điều để quy định cụ thể về hướng nghiệp và phân luồng trong giáo dục. Việc sửa đổi này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hướng nghiệp và phân luồng trong triển khai thực tiễn, khắc phục hạn chế của Luật Giáo dục hiện hành là chưa quy định cụ thể, chưa thể hiện đầy đủ quan điểm, đường lối của Đảng về hướng nghiệp và phân luồng.
Liên quan đến nội dung này, ông Hoàng Ngọc Vinh, nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT), cho rằng cơ quan soạn thảo vẫn chưa nhận thức rõ xu hướng giáo dục hướng nghiệp hiện nay ở THCS và THPT trên thế giới để giúp phân luồng hiệu quả. Ví dụ, trong cách thể hiện mục tiêu của giáo dục phổ thông, dự thảo khiến cho người làm chương trình tùy tiện khi thiết kế vì không biết thế nào là hiểu biết ban đầu. "Nhiều quốc gia đã tích hợp giáo dục hướng nghiệp ngay từ khi học tiểu học vào chương trình chung. Đối với bậc THCS thì không có môn học hay tiết học hướng nghiệp (trừ cho người khuyết tật) do hiệu quả kém của giáo dục hướng nghiệp và làm mất đi sự bình đẳng trong tiếp nhận học vấn phổ thông giữa các nhóm" - ông Vinh nói.
Cấp giấy chứng nhận hoàn thành chương trình giáo dục
Về chương trình giáo dục phổ thông và sách giáo khoa (SGK), đa số ý kiến góp ý nhất trí với điều 30 dự thảo luật vì đã sửa đổi, bổ sung theo hướng luật hóa đường lối, chủ trương của Nghị quyết 29-NQ/TW về chương trình giáo dục phổ thông và SGK; khắc phục những quy định của Luật Giáo dục hiện hành đã lạc hậu, không phù hợp với chủ trương đổi mới về chương trình giáo dục phổ thông, SGK.
Bên cạnh đó, còn có ý kiến đề nghị chương trình giáo dục phổ thông nên thống nhất cả nước để bảo đảm chuẩn đầu ra, không làm khó HS khi do hoàn cảnh phải chuyển trường, chuyển chỗ ở qua các huyện, tỉnh và vùng khác. Đồng thời, không đồng ý mỗi môn học có một số bộ SGK, mỗi chương trình có một số bộ SGK, bộ SGK được sử dụng chỉ sau khi đã được thử nghiệm ít nhất một năm học (trọn bộ)… Không nên xã hội hóa biên soạn SGK vì có thể dẫn tới trường hợp không bảo đảm chất lượng trong giảng dạy và học tập.
Về thi tốt nghiệp THPT, tuyển sinh ĐH, đa số ý kiến nhất trí với điều 32 dự thảo luật khi bổ sung quy định HS học hết chương trình THPT nếu đủ điều kiện dự thi nhưng không dự thi hoặc thi không đạt thì được hiệu trưởng cấp giấy chứng nhận hoàn thành chương trình giáo dục phổ thông. Dự thảo luật cũng không có quy định việc sử dụng kết quả thi tốt nghiệp THPT để xét tuyển ĐH vì việc tuyển sinh thuộc về quyền tự chủ của các trường ĐH đã được quy định trong Luật Giáo dục ĐH (sửa đổi, bổ sung). Có ý kiến đề nghị dự thảo luật không nên quy định cụ thể việc thi tốt nghiệp THPT mà giao Bộ GD-ĐT quy định tại quy chế thi tốt nghiệp THPT để bảo đảm tính linh hoạt và quản lý ngành bảo đảm chất lượng, hiệu quả.
Về nội dung rất được quan tâm này, Chính phủ nhất trí với ý kiến đa số và bổ sung quy định: HS học hết chương trình THPT nếu đủ điều kiện dự thi nhưng không dự thi hoặc thi không đạt thì được hiệu trưởng cấp giấy chứng nhận hoàn thành chương trình giáo dục phổ thông và sửa đổi quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp để bảo đảm việc phân luồng, hướng nghiệp cho HS phổ thông. Vấn đề tuyển sinh ĐH thực hiện theo quy định của Luật Giáo dục ĐH (đã được sửa đổi, bổ sung).
Xác định biên chế và cơ chế tuyển giáo viên
Về việc phân công công tác cho SV sư phạm sau khi tốt nghiệp, đa số ý kiến góp ý phải có quy định về chế độ tuyển dụng đặc thù (so với Luật Viên chức) đối với GV các cơ sở giáo dục công lập. Điều này nhằm khắc phục bất hợp lý hiện nay là không có cơ chế phân công công tác cho SV sư phạm sau khi tốt nghiệp; không thu hút được SV giỏi học ngành sư phạm; cơ quan chức năng khi xác định chỉ tiêu biên chế, giao biên chế, giảm biên chế và quy trình tuyển dụng vẫn chưa tính đến đặc thù của ngành giáo dục; tình trạng GV nơi thừa, nơi thiếu vẫn diễn ra… Trong bối cảnh chưa sửa được Luật Viên chức thì để thu hút SV giỏi học ngành sư phạm, cần sửa đổi các quy định về lương và phụ cấp của GV cho phù hợp.
Chính phủ cho biết sẽ tiếp thu ý kiến nêu trên, bổ sung một khoản hoặc một điều trong dự thảo luật quy định đặc thù về xác định biên chế và cơ chế tuyển dụng GV cho SV tốt nghiệp các trường sư phạm vào các cơ sở giáo dục công lập.
Nên cho học sinh thi tốt nghiệp THPT nhiều lần
TS Hoàng Ngọc Vinh cho rằng việc quy định thi tốt nghiệp THPT như dự thảo là hợp lý. Tuy nhiên, việc cấp giấy chứng nhận hoàn thành chương trình THPT theo như Chính phủ giải thích để cho HS học nghề dường như mâu thuẫn với việc phân luồng vào giáo dục nghề nghiệp ngay sau THCS. Cấp giấy chứng nhận hoàn thành THPT sau 3 năm học văn hóa thì có thể xem là một sự lãng phí và khuyến khích các em đi theo hướng này rồi mới vào học nghề. "Vì vậy, nên nghiên cứu cho học sinh THPT được thi tốt nghiệp một số lần. Thời gian thi sẽ do Bộ GD-ĐT quy định cụ thể. Điều này cũng làm giảm áp lực gian lận" - ông Vinh đề xuất.
Theo Yến Anh (Người Lao động)

Bồi dưỡng giáo viên: Khâu đột phá trong đổi mới giáo dục phổ thông

Cùng với yêu cầu đổi mới GD toàn diện và chuẩn bị cho việc triển khai Chương trình - Sách giáo khoa (SGK) giáo dục phổ thông (GDPT) mới, đội ngũ giáo viên là một trong những nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp đổi mới GD. Vì vậy, muốn nâng cao chất lượng GD phải bắt đầu từ đội ngũ giáo viên; mỗi thầy, cô giáo phải nỗ lực tự học, tự bồi dưỡng, tự đổi mới.

Hướng giáo viên tới việc tự bồi dưỡng
Nhiệm vụ "đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT" đặt lên vai đội ngũ nhà giáo những yêu cầu mới với trách nhiệm lớn hơn trong dạy học và GD. Mỗi thầy giáo, cô giáo không những là người giỏi về chuyên môn dạy học các môn học mà còn phải là người có năng lực sư phạm, năng lực GD và truyền động lực học tập, tu dưỡng đạo đức nhân cách tới mỗi HS.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, mỗi thầy giáo, cô giáo tự học, tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ. Đây là phương thức tốt nhất giúp người GV tiến bộ, trưởng thành, có đủ phẩm chất và năng lực chuyên môn nghiệp vụ, hoàn thành nhiệm vụ GD - ĐT được giao.
Cô Lê Thị Thanh Huyền, Trường Tiểu học Thụy Lâm A (Đông Anh - Hà Nội) cho rằng: Một trong những điểm yếu của giáo viên hiện nay chính là sự thụ động và ngại thay đổi. Nhiều giáo viên về trình độ công nghệ thông tin còn non khiến cho tiếp cận các thông tin và kiến thức giáo dục trên Internet còn chậm.
"Theo cá nhân tôi, để triển khai và hướng giáo viên tới việc tự bồi dưỡng qua CNTT, các phòng, ban giám hiệu vẫn có chỉ đạo cụ thể. Việc tự bồi dưỡng phải có đánh giá qua các bài kiểm tra trực tuyến, qua đó có đối chiếu và kiểm chứng đối với từng cá nhân. Các giáo viên cần có tài khoản tham gia bồi dưỡng và những kết quả làm được sau bồi dưỡng phải có đánh giá thực tế, có như vậy mới tránh trường hợp làm hộ và sao chép lẫn nhau trong các tập thể" - cô Thanh Huyền nói.
Để đem lại hiệu quả trong quá trình tập huấn, theo cô Phạm Thị Hải, giáo viên Trường THPT Mai Sơn, Sơn La: Chuẩn bị cho việc thực hiện Chương trình GDPT mới, cần triển khai và hướng giáo viên tới việc tự bồi dưỡng qua CNTT; việc làm này sẽ tiện lợi cho giáo viên có thể chủ động tiếp cận kiến thức mình cần mà không phải mất thời gian, đỡ tốn kém cho các cơ sở giáo dục.
Thầy cô trở thành "tấm gương tự học"
Trong bối cảnh nền GD&ĐT đang đổi mới toàn diện, căn bản đòi hỏi người thầy phải tự bồi dưỡng thường xuyên, liên tục trong suốt sự nghiệp nhằm chuyển từ một nền giáo dục truyền thụ kiến thức sang phát huy tối đa khả năng của học sinh.
Từ kinh nghiệm đổi mới, sáng tạo trong dạy học, cô Hồ Thị Thu Chung, Trường Tiểu học Thạch Đồng (Hà Tĩnh) chia sẻ quan điểm: Chương trình GDPT mới chuyển từ một nền giáo dục truyền thụ kiến thức sang phát huy tối đa khả năng của HS, vì thế, giáo viên cần cập nhật các chương trình bồi dưỡng thường xuyên liên tục trên diễn đàn trường học kết nối; tự học qua Internet, qua các kênh tài liệu khác. Bộ GD&ĐT cần cập nhật các chương trình bồi dưỡng thường xuyên liên tục trên diễn đàn trường học kết nối. Mặc dù chương trình bồi dưỡng thường xuyên qua mạng còn khó khăn với các trường vùng sâu, vùng cao… nhưng đó là yếu tố để tiếp cận với công nghệ 4.0.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, mỗi thầy giáo, cô giáo tự học, tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ. Đây là phương thức tốt nhất giúp người GV tiến bộ, trưởng thành, có đủ phẩm chất và năng lực chuyên môn nghiệp vụ, hoàn thành nhiệm vụ GD&ĐT được giao.
Cô Lê Thị Thanh Huyền, Trường Tiểu học Thụy Lâm A (Đông Anh - Hà Nội) cho rằng: Một trong những điểm yếu của giáo viên hiện nay chính là sự thụ động và ngại thay đổi. Nhiều giáo viên về trình độ công nghệ thông tin còn non khiến cho tiếp cận các thông tin và kiến thức giáo dục trên Internet còn chậm.
"Theo cá nhân tôi, để triển khai và hướng giáo viên tới việc tự bồi dưỡng qua CNTT, các phòng, ban giám hiệu vẫn có chỉ đạo cụ thể. Việc tự bồi dưỡng phải có đánh giá qua các bài kiểm tra trực tuyến, qua đó có đối chiếu và kiểm chứng đối với từng cá nhân. Các giáo viên cần có tài khoản tham gia bồi dưỡng và những kết quả làm được sau bồi dưỡng phải có đánh giá thực tế, có như vậy mới tránh trường hợp làm hộ và sao chép lẫn nhau trong các tập thể" - cô Thanh Huyền nói.
"Xu thế chung của GD hiện nay là phát huy tối đa khả năng của HS, giúp các em tự khám phá và chiếm lĩnh tri thức. Vì vậy, người thầy với vai trò tổ chức, hướng dẫn quá trình sư phạm phải là tấm gương tự học, thành thạo trong các kỹ năng tự học. Người thầy có tự học, tự bồi dưỡng mới làm chủ được tri thức, chuyên môn và đáp ứng tốt nhất việc nâng cao chất lượng", cô Hải Yến nói.
Để giúp đội ngũ nhà giáo trong hành trình tự học, tự bồi dưỡng, Chương trình Phát triển các trường sư phạm để nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lí cơ sở GDPT (ETEP) đang xây dựng Hệ thống quản lý học tập (LMS), Hệ thống thông tin quản lý bồi dưỡng giáo viên (TEMIS) qua mạng. Dự kiến sẽ có khoảng 28.000 giáo viên phổ thông cốt cán, 4.000 cán bộ quản lý cốt cán sẽ được tập huấn, bồi dưỡng 54 module liên tục trong 3 năm. Đội ngũ cốt cán này cùng với các chuyên gia của 8 trường sư phạm sẽ hỗ trợ việc tự bồi dưỡng cho khoảng 800.000 giáo viên phổ thông và 70.000 cán bộ quản lý cơ sở GDPT thông qua mạng Internet.
Theo Lê Đăng (GD&TĐ)

Giới thiệu ngành Giáo dục Quốc phòng và An ninh -Đại học Vinh

I. VÀI NÉT VỀ TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH

      Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh là đơn vị trực thuộc trường Đại học Vinh - tiền thân là khoa Giáo dục Quốc phòng, được thành lập vào ngày 6/6/1983. Trải qua hơn 30 năm xây dựng và trưởng thành, đến nay Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh đã trở thành một địa chỉ đáng tin cậy trong lĩnh vực đào tạo giáo dục quốc phòng trong lĩnh vực đào tạo giáo dục quốc phòng trong cả nước.
      1. Nhiệm vụ chính trị: Sứ mệnh của Trung tâm là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh vực Giáo dục Quốc phòng ở khu vực Bắc Trung Bộ và trong cả nước. 
      2. Quy mô: Hàng năm, Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh Trường Đại học vinh tiến hành giảng dạy bộ môn Giáo dục Quốc phòng - An ninh cho hơn 7.000 sinh viên, đào tạo hơn 200 sinh viên chính quy ngành sư phạm và sinh viên văn bằng 2 Giáo dục Quốc phòng và An ninh theo quyết định số 607/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án "Đào tạo giáo viên, giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh cho các trường THPT, trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp, cao đẳng nghề và các cơ sở giáo dục đại học đến năm 2020".
      3. Đội ngũ: Trung tâm có 36 cán bộ cán bộ giảng viên. Trong đó có 10 người là sĩ quan biệt phái, 6 giảng viên và 20 cán bộ viên chức được đào tạo chính quy đạt chuẩn làm nhiệm vụ giảng dạy, quản lý và phục vụ sinh viên.
     4. Cơ sở vật chất, thiết bị: Hệ thống cơ sở vật chất của Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh Trường Đại học Vinh được khánh thành và đi vào hoạt động tháng 9/2013 với diện tích 17ha. Các hạng mục được xây dựng đồng bộ, đảm bảo cùng một lúc phục vụ cho khoảng 1.000 sinh viên ăn ở, học tập và sinh hoạt tập trung. Trung tâm có hệ thống phòng học thoáng mát rộng rãi với các khu giảng đường A, giảng đường đa năng 1,2. Hệ thống phòng học được trang bị đầy đủ thiết bị hiện đại, đáp ứng đầy đủ nhu cầu học tập và nghiên cứu của sinh viên. Trung tâm còn có hệ thống thao trường, bãi tập, các công trình phục vụ cho nhu cầu giải trí, sinh hoạt tập thể và thể dục thể thao của sinh viên.
      5. Thành tích của Trung tâm: Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh là đơn vị nhiều năm liền được Thủ tướng Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tặng bằng khen và cờ thi đua. Về tập thể: Có 1 bằng khen Thủ tướng Chính phủ; 2 Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo; 2 Bằng khen của Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Đội ngũ giảng viên có 6 giảng viên đạt danh hiệu giảng viên cấp giỏi quốc, 2 cá nhân được Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen và nhiều phần thưởng cao quý khác.


II. NGÀNH ĐÀO TẠO, LOẠI HÌNH VÀ THỜI GIAN ĐÀO TẠO
Tên ngành đào tạoGiáo dục Quốc phòng và An ninh
2. Loại hình đào tạoChính quy
3. Thời gian đào tạo, đối tượng tuyển sinh:
Đào tạo chính quy tập trung thời gian 4 năm với đối tượng là những người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc tương đương theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo;
Đào tạo văn bằng 2, thời gian 24 tháng tập trung với đối tượng tuyển sinh là những người có bằng tốt nghiệp đại học các ngành khác;
Đào tạo văn bằng 2, thời gian 18 tháng tập trung với đối tượng tuyển sinh là giáo viên, giảng viên hiện đang giảng dạy tại các cơ sở giáo dục, đào tạo và dạy ngh, đã tt nghiệp đại học chuyên ngành khác và có chứng chỉ đào tạo ngn hạn giáo viên Giáo dục Quốc phòng - An ninh(thời gian đào tạo từ 6 tháng trở lên).
Văn bng tt nghiệp: Cử nhân Sư phạm Giáo dục Quốc phòng - An ninh.
III. CHUẨN ĐẦU RA
1. Kiến thức:
- Nắm vững kiến thức giáo thức giáo dục đại cương và kiến thức cơ bản về đường lối cách mạng, đường lối quân sự của Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Có hiểu biết lý luận và thực tiễn về công tác Quốc phòng - an ninh của Nhà nước, có nhận thức sâu sắc về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, về nghệ thuật đánh giặc giữ nước của dân tộc, có kiến thức cơ bản về kĩ thuật, chiến thuật quân sự, về điều lệnh quân đội Nhân dân Việt Nam.
- Nắm vững kiến thức thức nghiệp vụ sư phạm và phương pháp dạy học bộ môn để thực hiện tốt nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục học sinh.
2. Kỹ năng:
- Có các kỹ năng sư phạm, thành thạo việc giảng dạy Giáo dục Quốc phòng - An ninh.
- Thuần thục các thao tác, kỹ năng quân sự, sử dụng thành thạo vũ khí bộ binh và hiểu biết các thiết bị quân sự khác.
- Có kỹ năng làm việc nhóm, khả năng tự học; tự nghiên cứu; khả năng thích ứng với yêu cầu nghề nghiệp và làm việc độc lập.
3. Vị trí và khả năng trong công tác sau khi tốt nghiệp
- Giáo viên giảng dạy bộ môn Giáo dục Quốc phòng - An ninh ở các trường THPT, trường trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học.
- Công tác ở các cơ quan trong hệ thống chính trị, cán bộ chuyên trách về Quốc phòng - An ninh ở các cơ quan, đơn vị.
4. Khả năng học tập, nâng cao trình độ sau khi tốt nghiệp
- Tiếp tục học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ trong các lĩnh vực về Quốc phòng - An ninh.
- Học tập sau đại học các chuyên ngành tương ứng.
IV. QUYỀN LỢI CỦA SINH VIÊN
"Người học ngành đào tạo Giáo dục quốc phòng an ninh được hưởng các chế độ sau:
- Hỗ trợ tiền học phí, tiền quân trang, tiền trang bị phục vụ học tập, tiền ăn, tiền ở nội trú, bảo hiểm y tế, tiền hỗ trợ các hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị như quy định hiện hành đối với học viên sĩ quan cấp phân đội học tại trường sĩ quan lục quân thuộc Bộ Quốc phòng.
- Học viên tốt nghiệp, bao gồm cả nữ, nếu có đủ tiêu chuẩn sức khỏe và tình nguyện đăng ký, được xét phong quân hàm sĩ quan dự bị theo quy định của Luật Sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam; được ưu tiên tuyển dụng làm giáo viên các trường THPT, trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề, cao đẳng đẳng nghề và các cơ sở giáo dục đại học."
(Trích theo quyết định số: 607/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án "Đào tạo giáo viên, giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh cho các trường THPT, trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề, cao đẳng nghề và các cơ sở giáo dục đại học đến năm 2020").

Thứ Sáu, 15 tháng 3, 2019

Ngành Giáo Dục Quốc Phòng & An Ninh - LQ1

Học Viên Ngành Giáo Dục Quốc Phòng & An Ninh Trường Sỹ Quan Lục Quân 1


Ngành đào tạo:  Giáo dục quốc phòng - an ninh
Trình độ đào tạo:  Đại học
Thời gian đào tạo4 năm
Mã ngành: 52140208
MỤC TIÊU  ĐÀO TẠO
1. Mục tiêu chung
Đào tạo giáo viên Giáo dục quốc phòng - an ninh trình độ đại học có năng lực đáp ứng yêu cầu giảng dạy trong các nhà trường trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề, cao đẳng, đại học.
2. Mục tiêu cụ thể 
2.1 Về phẩm chất đạo đức
Giáo viên Giáo dục quốc phòng - an ninh có phẩm chất của người giáo viên nhà trường XHCN Việt Nam; tin tưởng vào đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; có bản lĩnh chính trị vững vàng; yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, yêu nghề, yêu học sinh; có sức khoẻ, có ý thức trách nhiệm cao và tác phong mẫu mực.
2.2  Về kiến thức
Trang bị cho sinh viên hệ thống kiến thức cơ bản bao gồm: khối kiến thức giáo dục đại cương với các học phần bắt buộc; kiến thức chuyên nghiệp bao gồm kiến thức cơ sở ngành, kiến thức ngành quốc phòng, an ninh; những vấn đề về kết hợp quốc phòng với kinh tế, đối ngoại, văn hoá, xã hội trong thời kỳ đổi mới và hội nhập.
2.3 Về kỹ năng
- Thành thạo trong giảng dạy.
Thuần thục thao tác kỹ năng quân sự, sử dụng thành thạo vũ khí bộ binh và hiểu biết các thiết bị quân sự khác.
Hiểu biết và thực hiện tốt công tác quốc phòng, quân sự địa phương trong các cơ sở giáo dục đào tạo.
CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
1. Danh mục các học phần bắt buộc
1.1 Kiến thức giáo dục đại cương:
Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin
Tư tưởng Hồ Chí Minh
Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam
Tin học cơ sở
Ngoại ngữ cơ sở 1
Ngoại ngữ cơ sở 2
Môi trường và phát triển
Giáo dục thể chất
Giáo dục quốc phòng - an ninh
1.2 Kiến thức giáo dục chuyên nghiệp:
1.2.1 Kiến thức cơ sở ngành:
Học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh, quân đội và bảo vệ Tổ quốc
Lịch sử chiến tranh và Nghệ thuật quân sự thế giới
Lịch sử chiến tranh và Nghệ thuật quân sự Việt Nam
Tâm lý học đại cương
Giáo dục học đại cương
 Tâm lý học quân sự
 Giáo dục học quân sự
Lý luận dạy học đại học
Pháp luật về quốc phòng, an ninh
Quân sự chung
1.2.2 Kiến thức ngành         
Điều lệnh Quân đội
Vũ khí bộ binh
Công tác Đảng, công tác chính trị trong quân đội và công an nhân dân
Quan điểm của Đảng về quốc phòng, an ninh
Công tác quốc phòng, quân sự địa phương
Bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội
Xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới Quốc gia
Địa hình quân sự
Kỹ thuật bắn súng bộ binh và ném lựu đạn
Công tác bảo đảm hậu cần, quân y
Chiến thuật: cá nhân, tổ bộ binh
Chiến thuật: tiểu đội, trung đội bộ binh
Phương pháp dạy học GDQP-AN 1
Phương pháp dạy học GDQP-AN 2
Thực tập Sư phạm
2. Mô tả các học phần bắt buộc (khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp)
Học thuyết Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh, quân đội và bảo vệ Tổ quốc
Giới thiệu những quan điểm cơ bản của học thuyết Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh, quân đội và bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN.
Nhận thức và tư duy mới của Đảng về bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Lịch sử chiến tranh và nghệ thuật quân sự thế giới
Lịch sử chiến tranh và Nghệ thuật quân sự Thế giới qua các thời đại:
- Thời đại chiếm hữu nô lệ
- Thời đại Phong kiến
- Thời đại Tư bản chủ nghĩa
- Thời đại Đế quốc chủ nghĩa
- Trong đại chiến Thế giới lần thứ 2
- Sau đại chiến Thế giới lần thứ 2.
Lịch sử chiến tranh và Nghệ thuật quân sự Việt Nam
Lịch sử chiến tranh và Nghệ thuật quân sự Việt Nam qua các giai đoạn:
- Từ Thế kỷ III trước công nguyên đến thế kỷ X
- Từ thế kỷ X đến thế kỷ XVIII
- Giai đoạn chống xâm lược Pháp (1945-1954)
- Giai đoạn chống xâm lược Mỹ (1954-1975).
Tâm lý học đại cương          
Trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về tâm lý học: Bản chất và cấu trúc tâm lý xã hội; văn hóa giao tiếp của xã hội; tư cách và những thuộc tính tâm lý của chủ thể trong giao tiếp; một số hiện tượng tâm lý và một số vấn đề tâm lý của xã hội; nhận định và đánh giá một con người qua giao tiếp đồng thời giúp sinh viên tìm hiểu một số vấn đề văn hóa và nghệ thuật giao tiếp.
Giáo dục học đại cương     
Học phần cung cấp những kiến thức cơ bản về giáo dục học bao gồm: Lý luận chung về giáo dục (những vấn đề lý luận về giáo dục, hệ thống giáo dục và giáo dục học); lý luận và thực hành tổ chức hoạt động dạy học và giáo dục (nghĩa hẹp) trong nhà trường; lý luận và thực hành đo lường, đánh giá trong giáo dục.
Tâm lý học quân sự
Trên cơ sở kiến thức về tâm lý học, giáo dục học đại cương, nội dung của học phần lý thuyết đi sâu nghiên cứu tâm lý học nhân cách quân nhân; tâm lý hoạt động dạy của giáo viên GDQP-AN.
Giáo dục học quân sự
Cơ sở tâm lý hình thành tri thức kỹ năng và nhiệm vụ, nội dung giáo dục, hình thức tổ chức giáo dục và hoạt động tự giáo dục của sinh viên trong nhà trường quân sự.
Lý luận dạy học
Đây là môn học mở đầu cho các môn lý luận dạy học bộ môn. Do sự phát triển của lí luận dạy học, về thay đổi phương pháp dạy học trong thời đại mới (môn học này đã được tách ra từ một chương của Giáo dục học để có thể có đủ thời lượng đề cập đến các lí luận về dạy học cũng như các phương pháp dạy học tích cực).
Những vấn đề về lí thuyết dạy học cơ bản, cổ điển ở Việt Nam như: quá trình dạy học là gì, nhiệm vụ của người giáo viên, các qui luật và các nguyên tắc của dạy học trong trường học XHCN. Các quan điểm mới về lý luận dạy học, các phương pháp dạy học tích cực … 
Pháp luật về quốc phòng, an ninh
Trang bị cho sinh viên về hệ thống kiến thức pháp luật quốc phòng, an ninh, gồm:
- Một số Luật về quốc phòng, an ninh: Luật Quốc phòng, Nghĩa vụ quân sự,  Sĩ quan, Dân quân tự vệ, An ninh quốc gia, Công an nhân dân,...
- Các Pháp lệnh về: Tình trạng khẩn cấp, Công nghiệp quốc phòng, Dự bị động viên, ...
- Các văn bản về công tác quốc phòng, an ninh.
Quân sự chung
Trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về: Công tác chỉ huy, tham mưu; Thuốc nổ, lựu đạn; Vũ khí huỷ diệt lớn; Thông tin tác chiến điện tử; Vật cản, công sự, nguỵ trang; Vũ khí tự tạo; Máy bắn tập.
Điều lệnh Quân đội
Trang bị những kiến thức, kỹ năng cơ bản về điều lệnh quản lý bộ đội và điều lệnh đội ngũ: chức trách, mối quan hệ, lễ tiết, tác phong quân nhân, trang phục, cấp hiệu, phù hiệu của quân đội và công an nhân dân.
Rèn luyện kỹ năng thực hành gồm: động tác đội ngũ từng người không có súng và có súng; đội ngũ từ tiểu đội đến tiểu đoàn.
Vũ khí bộ binh
Giới thiệu cho sinh viên những hiểu biết cơ bản và kỹ năng sử dụng các vũ khí: AK, CKC, K54, RBĐ, B40, B41, Đại liên, cối 60 ...
Công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội và công an
Trang bị cho sinh viên lý luận cơ bản và nội dung, phương pháp tiến hành công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội, công an nhân dân.
Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức và lãnh đạo quân đội, công an nhân dân; công tác đảng, công tác chính trị, công tác tư tưởng, công tác tổ chức của Đảng trong quân đội, công an nhân dân. Một số vấn đề về công tác chi bộ, chi đoàn và thi đua khen thưởng.
Quan điểm của Đảng về quốc phòng, an ninh
Trang bị cho sinh viên những nội dung cơ bản về quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước về quốc phòng, an ninh, gồm: Chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; kết hợp kinh tế văn hóa, xã hội với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh và đối ngoại.
Công tác quốc phòng, quân sự địa phương
Trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về công tác quốc phòng, quân sự địa phương, gồm: Công tác quốc phòng, quân sự địa phương; xây dựng và hoạt động của lực lượng dân quân tự vệ, lực lượng dự bị động viên và động viên công nghiệp; phòng chống địch tiến công hỏa lực bằng vũ khí công nghệ cao (gắn với nội dung phòng chống bom đạn địch, thiên tai); công tác phòng không nhân dân; xây dựng tỉnh (thành phố) thành khu vực phòng thủ vững chắc; phòng thủ dân sự.
Bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội
Trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, gồm: Phòng chống chiến lược “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; Phòng chống địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam; Bảo vệ an ninh quốc gia; Giữ gìn trật tự an toàn xã hội; Xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc.
Xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia
Trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về xây dựng, quản lý, bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia; Quản lý Nhà nước về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia, biển và hải đảo Việt Nam.
Giới thiệu những vấn đề cơ bản về đấu tranh chống phản động ở khu vực biên giới; đấu tranh chống gián điệp ở khu vực biên giới; đấu tranh chống hoạt động xâm phạm trật tự an toàn xã hội ở khu vực biên giới, trên biển và hải đảo.
Địa hình quân sự      
Trang bị cho sinh viên những hiểu biết chung về địa hình quân sự, gồm:  Cơ sở toán học và danh pháp bản đồ; Ký hiệu trên bản đồ địa hình; Chữ tắt và ký hiệu quân sự; Thước chỉ huy; Cách sử dụng bản đồ quân sự và các thiết bị địa bàn, ống nhòm, máy định vị GPRS…
Kỹ thuật bắn súng bộ binh và ném lựu đạn
Giới thiệu nguyên lý bắn súng bộ binh (các thời kỳ của hiện tượng bắn, sức giật và sự hình thành góc nảy, hình dáng đường đạn và ý nghĩa thực tiễn trong chiến đấu; ngắm bắn, kiểm tra, hiệu chỉnh súng tiểu liên AK, súng trường CKC) và ném lựu đạn; giới thiệu động tác bắn tại chỗ; tổ chức tập luyện bắn súng; thực hành bắn AK (CKC), K54, ném lựu đạn.
Công tác bảo đảm hậu cần, quân y
Giới thiệu một số kiến thức về công tác bảo đảm hậu cần, quân y: giới thiệu những vấn đề chung về công tác bảo đảm hậu cần quân đội trong thời bình và trong chiến đấu. Thực hành kỹ thuật cấp cứu, chuyển thương, gồm: kiến thức và kỹ năng về cấp cứu đầu tiên vết thương chiến tranh; các kỹ thuật cấp cứu, chuyển thương.
Chiến thuật cá nhân, tổ bộ binh
Trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về tổ  chức biên chế, nguyên tắc, thủ đoạn, chiến đấu của cấp tiểu đội, trung đội, đại đội quân đội nước ngoài (Mỹ, Trung Quốc, Thái Lan…); chiến thuật cá nhân (bao gồm lợi dụng địa hình, địa vật, các tư thế, động tác cơ bản vận động trên chiến trường); tổ bộ binh trong chiến đấu tiến công và phòng ngự.
Chiến thuật tiểu đội, trung đội bộ binh
Trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về chiến thuật tiểu đội, trung đội bộ binh trong chiến đấu tiến công và phòng ngự: Những vấn đề chung (đặc điểm, nhiệm vụ, khả năng, tư tưởng chỉ đạo, yêu cầu chiến thuật, cách đánh); tổ chức chuẩn bị chiến đấu; hành động sau khi chiến đấu.
Phương pháp dạy học GDQP-AN 1
Trên cơ sở lý luận dạy học đại học, trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về dạy học GDQP-AN: nguyên tắc, các mối kết hợp, hình thức tổ chức, phương pháp dạy học GDQP-AN. Tổ chức thi, kiểm tra và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện. Giới thiệu chương trình ngành học, giáo trình, sách giáo khoa, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học GDQP-AN. Hướng dẫn xây dựng kế hoạch dạy học. Hướng dẫn thiết kế bài học theo hướng tích cực hóa hoạt động của sinh viên.
Phương pháp dạy học GDQP-AN 2
Thiết kế và thực hiện bài học:
- Lý thuyết GDQP-AN trong chương trình trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp và trung cấp nghề.
- Kỹ năng thực hành các nội dung giáo dục trong chương trình GDQP-AN trong các trường trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp và trung cấp nghề.